Hướng dẫn về Monero (XMR) cho người mới bắt đầu
Mục lục
Giới thiệu
Monero là gì?
Monero hoạt động như thế nào?
Monero so với Bitcoin – đâu là điểm khác biệt?
Tổng kết
Hướng dẫn về Monero (XMR) cho người mới bắt đầu
Trang chủBài viết
Hướng dẫn về Monero (XMR) cho người mới bắt đầu

Hướng dẫn về Monero (XMR) cho người mới bắt đầu

Trung cấp
Published Jul 23, 2020Updated Nov 18, 2021
10m

Giới thiệu

Blockchain công khai vốn minh bạch. Để blockchain hoạt động trong môi trường phi tập trung, ứng dụng ngang hàng phải có khả năng xác minh độc lập tất cả các giao dịch trên ứng dụng. Nhìn sơ qua Bitcoin hoặc Ethereum là đủ thấy cơ sở dữ liệu của các dự án này được công khai như thế nào.
Một cơ sở hạ tầng như vậy sẽ đem lại một số ưu điểm, nhưng thường ảnh hưởng đến tính bảo mật và tính ẩn danh. Những người quan sát có thể liên kết các giao dịch và địa chỉ trên blockchain, nhờ đó có thể biết được thông tin về chủ sở hữu địa chỉ.
Những đồng tiền mã hóa được gọi là ẩn danh này tỏ ra hữu ích đối với vô số ứng dụng. Tuy nhiên, những người tìm kiếm cơ chế bảo mật tài chính thực sự mong muốn có một đồng coin bảo mật hơn. Và khi nói đến đồng tiền mã hóa bảo mật, ít có đồng tiền nào nổi tiếng như Monero.


Monero là gì?

Monero (trong tiếng Esperanto có nghĩa là "tiền") là đồng tiền mã hóa được xây dựng dựa trên nguyên tắc không thể liên kếtkhông thể phát hiện. Nói một cách đơn giản, điều này nghĩa là bạn sẽ không thể tìm ra mối liên hệ giữa hai giao dịch Monero, cũng như không thể xác định nguồn gốc hoặc đích đến của tiền.

Đây chính là điểm hấp dẫn của Monero. Đồng tiền này vẫn sử dụng blockchain để theo dõi biến động của tiền, nhưng sử dụng một số mật mã tinh gọn để che giấu nguồn gốc, số tiền và đích đến của giao dịch. Chúng tôi sẽ minh họa đặc điểm này bằng cách so sánh blockchain Monero với sổ cái Bitcoin, trông giống như bên dưới:


Ngược lại, blockchain Monero sẽ trông như thế này:


Chúng ta sẽ tìm hiểu cách thức hoạt động của cơ chế làm rối này. 


Tóm tắt lịch sử của Monero

Monero là một nhánh (fork) của Bytecoin, đồng tiền mã hóa tập trung vào tính bảo mật ra mắt năm 2012. Bytecoin là giao thức đầu tiên dựa trên CryptoNote, một công nghệ nguồn mở hướng đến việc giải quyết một số nhược điểm của Bitcoin. Cụ thể, những nhược điểm này bao gồm cơ chế đào ASIC (sử dụng phần cứng đào chuyên dụng) và việc thiếu tính bảo mật trong giao dịch. Hiện giờ, CryptoNote là nền tảng của nhiều đồng tiền mã hoá đang tìm cách tập trung vào tính bảo mật.
Vào năm 2014, những nhà phát triển không hài lòng với cơ chế phân bổ ban đầu của Bytecoin đã phân nhánh đồng tiền thành một dự án mới có tên là Bitmonero. Sau đó, tên đã được thay đổi, bỏ chữ "Bit" đi và trở thành tên gọi mà chúng ta biết đến ngày nay là Monero.


Monero hoạt động như thế nào?

Khi tìm hiểu về Monero, bạn sẽ bắt gặp các thuật ngữ như "chữ ký vòng (ring signature)" và "địa chỉ ẩn (stealth address)". Đây là hai trong số những điểm đổi mới quan trọng hỗ trợ tính ẩn danh của giao dịch Monero. Trong phần này, chúng tôi sẽ cung cấp thông tin tổng quan chi tiết về cả hai khái niệm.


Chữ ký vòng và giao dịch bí mật

Chữ ký vòng là chữ ký số được tạo bởi một người nào đó trong một nhóm cụ thể. Với khóa công khai của các thành viên trong nhóm và chữ ký, bất kỳ ai cũng có thể xác minh rằng một trong những người tham gia đã cung cấp chữ ký. Nhưng họ không thể biết cụ thể khóa nào đã cung cấp chữ ký. 
Tài liệu Cách làm lộ bí mật năm 2001 trình bày chi tiết về cơ chế này đã sử dụng ví dụ về nội các chính phủ. Giả sử một thành viên của nội các này – Bob – có một số bằng chứng buộc tội Thủ tướng. Bob muốn chứng minh với một nhà báo rằng ông ta chính là một thành viên trong nội các, nhưng ông ta muốn giấu tên.

Bob sẽ không thể làm điều này với chữ ký số thông thường. Bằng cách so sánh chữ ký số với khóa công khai của Bob, bất kỳ ai cũng có thể chắc chắn rằng chỉ có khóa riêng tư của Bob mới có thể tạo ra chữ ký đó. Ông ta có thể phải đối mặt với hậu quả khôn lường vì đã tiết lộ thông tin về hoạt động của Thủ tướng. Tuy nhiên, nếu khóa của các thành viên khác trong nội các được sử dụng trong cơ chế chữ ký vòng, bạn sẽ không thể xác định khóa nào đã gửi tin nhắn. Tuy nhiên, bạn có thể nói rằng một thành viên trong nội các đã làm lộ thông tin, do đó chứng minh được tính xác thực của việc này.

Kỹ thuật này được sử dụng mỗi khi bạn tạo giao dịch, cho phép bạn phủ nhận một cách chính đáng. Trong lúc tạo giao dịch, Monero của bạn sẽ kéo khóa của những người dùng khác từ blockchain để tạo thành một vòng. Các khóa này hoạt động hiệu quả như mồi nhử – người quan sát biết rằng bất kỳ ai trong vòng này đều có thể đã ký giao dịch của bạn. Kết quả là, người ngoài không bao giờ có thể xác định liệu một đơn vị giao dịch đã được chi hay chưa. Cùng lắm, họ chỉ có thể biết rằng một trong tám đơn vị giao dịch như hình bên dưới có thể đã được chi. Chúng tôi gọi số đơn vị giao dịch giả này là mixin.

Một vòng có bảy mixin.


Trong hình trên, đơn vị giao dịch màu xanh lá cây là đơn vị giao dịch bạn đang thực sự chi, còn đơn vị giao dịch màu đỏ là mồi nhử bạn thu được từ blockchain. Đối với một người quan sát, có vẻ như bạn có thể chi bất kỳ đơn vị giao dịch nào trong số tám đơn vị giao dịch này.

Trước đây, các đơn vị giao dịch trong vòng phải có cùng kích thước. Nếu không, người ngoài sẽ dễ dàng biết được những gì đang diễn ra, do số tiền giao dịch có thể nhìn thấy được. Ví dụ: bạn có thể có một vòng chỉ bao gồm đơn vị giao dịch 2 XMR hoặc một vòng chỉ bao gồm đơn vị giao dịch 0,5 XMR.

Tuy nhiên, việc nâng cấp RingCT (Giao dịch vòng bí mật) đã thay đổi điều đó. Cơ chế này sử dụng Giao dịch bí mật, một kỹ thuật làm rối số tiền giao dịch. Việc ứng dụng kỹ thuật này vào giao thức Monero là yếu tố quan trọng thúc đẩy tính bảo mật, nghĩa là bạn không còn phải sử dụng các mệnh giá định sẵn. Giờ bạn có thể tạo một vòng với đơn vị giao dịch có kích thước khác nhau mà không làm lộ bất kỳ thông tin nào có thể được dùng để nhận dạng bạn.


Địa chỉ ẩn

Chữ ký vòng giúp che giấu nguồn gốc của tiền, nhưng với địa chỉ công khai thông thường, bạn vẫn có thể biết tiền đang đi đâu. Việc này có thể phát sinh vấn đề nếu danh tính của bạn có liên hệ với một trong các địa chỉ trên blockchain. 

Giả sử bạn sử dụng cùng một địa chỉ cho cửa hàng thương mại điện tử của mình cho mọi đơn hàng. Bất kỳ ai đã đặt hàng đều có thể thấy số dư bạn đang giữ và nói với người khác rằng đó là địa chỉ doanh nghiệp của bạn. Điều này có thể khiến bạn trở thành mục tiêu.

Địa chỉ ẩn sẽ che giấu đích đến của tiền. Việc này được thực hiện bằng cách yêu cầu người gửi tạo địa chỉ dùng một lần dựa trên địa chỉ công khai chỉ được sử dụng cho giao dịch đó. Địa chỉ công khai có thể trông giống như sau:


41mT1gUnYHK6mDAxVsKeB7SP9hVesbESbWcupd7mMYC73GL4nSgsEwTGKHGT7GKoSEdMKvs8Fdu1ufPJbo5BV4d1PfYiEew


Nếu tìm kiếm địa chỉ này trong block explorer của Monero, bạn sẽ thấy bạn không thể liên hệ bất kỳ giao dịch nào với địa chỉ này. Đó là do khi người gửi muốn gửi tiền cho bạn, họ sẽ tạo một địa chỉ ẩn bằng cách thực hiện một số phép toán với địa chỉ phía trên. Khi gửi XMR, họ sẽ gửi số tiền này đến một địa chỉ mới trên blockchain. Mỗi địa chỉ được tạo sẽ khác với địa chỉ trước đó và chúng không có liên hệ gì với nhau.
Tuy nhiên, bạn có hai phần thông tin mà bạn có thể sử dụng, đó là: khóa xem riêng tưkhóa chi riêng tư . Đúng như tên gọi, khóa xem cho phép bạn xem tất cả các giao dịch có liên quan đến địa chỉ của bạn. Bạn có thể cung cấp khóa này cho người khác (ví dụ: kế toán của bạn) để kiểm tra số tiền bạn nhận được. Khóa chi là khóa mà bạn thường coi là khóa riêng tư - bạn sử dụng nó để chi coin của mình.
Monero có chính sách bảo mật theo mặc định, nghĩa là bạn không thể chọn không sử dụng địa chỉ ẩn. Do đó, mặc dù sổ cái công khai tự động được che giấu, nhưng bạn vẫn có thể minh bạch giao dịch của mình cho các bên mà bạn muốn.



Monero so với Bitcoin – đâu là điểm khác biệt?

Là đồng tiền mã hóa, Monero và Bitcoin có một số điểm tương đồng. Nhưng trên thực tế, cả hai đồng tiền có nhiều điểm khác biệt.


Khả năng thay thế

Khả năng thay thế là nguồn cơn của bất đồng chính trong thế giới Bitcoin. Nó đề cập đến khả năng hoán đổi một hàng hóa với một hàng hóa khác cùng loại. Ví dụ: vàng được coi là có thể thay thế do bạn có thể đổi một ounce vàng của bạn lấy một ounce vàng của người khác mà nó vẫn có chức năng giống nhau. Điều tương tự cũng xảy ra với tiền mặt – bạn có thể đổi một tờ 10 đô la lấy một tờ khác. Ngược lại, một tác phẩm nghệ thuật độc nhất như Mona Lisa không thể thay thế được vì không có tác phẩm nào khác giống nó.

Đối với nhiều đồng tiền kỹ thuật số, việc xác định khả năng thay thế sẽ khó khăn hơn một chút. Đơn vị Bitcoin có thể thay thế được ở cấp độ giao thức, do phần mềm không phân biệt bất kỳ đơn vị BTC nào. Tuy nhiên, khả năng thay thế trở nên mơ hồ hơn ở cấp độ xã hội và chính trị. Một số người cho rằng Bitcoin không thể thay thế vì mỗi đơn vị giao dịch là duy nhất, trong khi những người khác cho rằng điều đó không quan trọng.

Do blockchain của Bitcoin minh bạch, nên các thông tin giao dịch như số tiền và đích đến của tiền có thể theo dõi được. Giả sử bạn nhận được tiền thừa là một tờ 5 đô la tại một cửa hàng tạp hóa. Tờ tiền đó có thể đã được sử dụng trong một giao dịch phạm pháp cách đây mười giao dịch, nhưng nó không ảnh hưởng đến khả năng sử dụng tờ tiền vào lúc này. Với Bitcoin, đã có những sự cố mà đồng coin bị từ chối hoặc bị tịch thu do có quá khứ "vấy bẩn". Ngay cả khi người dùng không biết các giao dịch trong quá khứ, cơ chế giám sát chuỗi có thể đưa đồng coin vào danh sách đen và ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đồng coin này làm tiền tệ. Đây là lý do tại sao một số người coi Bitcoin là tài sản không thể thay thế.

Một số nhóm người cho rằng thực trạng này có thể phá vỡ một số đặc tính khiến tiền mã hóa trên sổ cái công khai trở nên hấp dẫn. Những đồng coin "sạch" mới được khai thác (và do đó, không có lịch sử) có thể được coi là có giá trị hơn những đồng coin "bẩn" cũ hơn.

Những người phản đối việc tạo hồ sơ về đồng coin cho rằng việc này sử dụng các kỹ thuật không đáng tin cậy và chủ quan để phân tích. Thật vậy, các công cụ để trộn coin và CoinJoining đang ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn đối với người dùng cuối, cả hai đều làm rối nguồn gốc của tiền.

Monero đã tránh những nhược điểm này ngay từ đầu. Do người quan sát không thể biết tiền đến từ đâu hoặc sẽ đi đâu, nên có lẽ Monero giống với tiền mặt hơn là các đồng coin không bảo mật. Ngay cả đối với các doanh nghiệp có chính sách phân tích nghiêm ngặt, XMR từ các giao dịch đáng ngờ vẫn có thể trao đổi một cách dễ dàng.

Tuy nhiên, cơ chế tăng cường bảo mật của Monero cũng có mặt tiêu cực. Trên thực tế, các giao dịch có quy mô lớn hơn nhiều, nghĩa là có một số rào cản đáng kể cần vượt qua trước khi hệ thống mở rộng quy mô để đáp ứng lưu lượng truy cập lớn.
Điều thú vị là, khả năng thay thế vượt trội của Monero thậm chí đã khiến tiền mã hóa trở nên nổi tiếng ở mức độ nhất định, vượt qua Bitcoin để trở thành đồng tiền được giới tội phạm mạng chọn để triển khai kỹ thuật cryptojacking (sử dụng trái phép thiết bị của người khác để đào tiền mã hóa, phần mềm tống tiền và giao dịch trên web đen.


Block và đào

Giống như Bitcoin, Monero sử dụng cơ chế Proof-of-Work để thêm các block giao dịch vào blockchain. Tuy nhiên, giống như tất cả các giao thức dựa trên CryptoNote, Moreno được thiết kế để kháng ASIC. Mục đích đằng sau việc này là để ngăn chặn sự thống trị của các mining pool (đội đào) sử dụng phần cứng đào chuyên dụng, có hiệu suất cao.
Thuật toán Proof-of-Work của Monero (gần đây đã đổi từ CryptoNight thành RandomX) nhằm mục đích làm cho hệ thống trở nên công bằng hơn bằng cách ưu tiên đào bằng CPU và làm suy yếu hiệu quả của GPU. Logic của việc này là công suất đào sẽ được phân bổ hiệu quả hơn khi các máy tính bình dân vẫn có khả năng cạnh tranh. Mặc dù vậy, công suất băm (hashing power) phần lớn vẫn tập trung trong tay một số ít đội đào .
Về kích thước block, Monero không có giới hạn cố định, không giống như 4 triệu đơn vị trọng lượng block của Bitcoin. Thay vào đó, Monero có kích thước block động, nghĩa là các block có thể mở rộng để đáp ứng nhu cầu tăng lên. Theo đó, nếu nhu cầu giảm thì kích thước cho phép sẽ bị thu hẹp lại. Kích thước được tính bằng cách xem kích thước trung bình của một trăm khối trước đó (trung bình, được đào cứ hai phút một lần). Thợ đào có thể tạo block vượt quá giới hạn cho phép, nhưng sẽ bị phạt dưới hình thức giảm phần thưởng.
Cần lưu ý rằng nguồn cung của Monero không phải là hữu hạn, giống như trường hợp của Bitcoin. Monero cũng có kế hoạch giảm dần phần thưởng block, nhưng không có xu hướng giảm về 0 theo thời gian. Thay vào đó, phần trợ cấp block sẽ duy trì ở mức cố định vô thời hạn nhằm mục đích khuyến khích người tham gia tiếp tục đào block.


Hard fork

Bạn có thể quan sát một điểm khác biệt thú vị khác giữa Bitcoin và Monero ở cấp độ quản trị. Bitcoin có phần không thích fork đến mức ngay cả những nâng cấp đơn giản cũng được thảo luận trong một thời gian dài trước khi được triển khai. Nhưng điều này cũng có lý do đằng sau. Các nhà phát triển Bitcoin đôi khi cần phải thận trọng để đảm bảo hệ thống luôn ổn định, an toàn và phi tập trung.

Tất nhiên, fork chỉ là cơ chế nâng cấp giao thức. Fork thường cần thiết để giải quyết các lỗi nghiêm trọng hoặc thêm các tính năng mới. Tuy nhiên, đối với Bitcoin, người dùng muốn tránh fork do có thể dẫn đến sự chia rẽ và gây ra mối đe dọa đối với tính phi tập trung. Nói chung, hard fork trong Bitcoin phát sinh khi một nhóm muốn tạo ra một đồng tiền mã hoá mới từ mạng lưới hiện có. Ngoài ra, fork thường dành để vá các lỗ hổng khẩn cấp.

Tuy nhiên, đối với Monero, hard fork thường xuyên là một phần trong lộ trình. Điều này đảm bảo rằng phần mềm có thể nhanh chóng thích ứng với các thay đổi và tung ra các bản nâng cấp bảo mật. Một số người coi cập nhật giao thức "bắt buộc" là một điểm yếu, mặc dù hard fork Monero không thực sự mang nghĩa tiêu cực như đôi khi vẫn xảy ra với các đồng tiền mã hóa khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là hard fork hoàn hảo – việc hard fork thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ lỗ hổng bảo mật không được chú ý và có thể đẩy người dùng chưa nâng cấp ra khỏi mạng lưới.


Kế hoạch phát triển Monero

Giống như Bitcoin, kế hoạch phát triển của Monero là phục vụ tất cả mọi người. Bất kỳ ai cũng có thể đóng góp vào mã nguồn và tài liệu. Cộng đồng sẽ quyết định tính năng nào cần thêm, xóa hoặc sửa đổi. Tại thời điểm viết bài, dự án đã có hơn 500 người đóng góp. Đội ngũ phát triển Cốt lõi của dự án bao gồm các nhà phát triển như Riccardo Spagni (còn có tên là FluffyPony), Francisco Cabañas (ArticMine), cũng như các nhà phát triển ẩn danh NoodleDoodle, othe và binaryFate.

Bên cạnh việc tài trợ, Hệ thống huy động vốn cộng đồng (CCS) còn được sử dụng để tài trợ cho hoạt động phát triển. Người dùng có thể đề xuất các ý tưởng, nếu được cộng đồng lựa chọn, sẽ trải qua giai đoạn huy động vốn từ cộng đồng. Sau khi đạt được một số cột mốc nhất định trong việc hiện thực hóa dự án, tiền sẽ được trao cho những người chịu trách nhiệm.


Tổng kết

Trong nhiều năm, Monero (XMR) đã trở thành đồng tiền mã hóa yêu thích của những người tìm kiếm sự đảm bảo về tính bảo mật. Monero có một cộng đồng các nhà phát triển tận tâm cam kết tăng cường tính bảo mật cho các giao dịch của người dùng. Các bản nâng cấp mới (chẳng hạn như tích hợp Kovri) cố gắng tiếp tục sứ mệnh đảm bảo tính không thể liên kết và không thể phát hiện của tiền mã hoá.